Cổng Thông Tin Đại Học, Cao Đẳng Lớn Nhất Việt Nam

Giáo án Trả bài làm văn số 5 Ra đề bài viết số 6 ngắn gọn nhất

Giáo án Trả bài làm văn số 5 Ra đề bài viết số 6 giúp học sinh củng cố những kiến thức và kĩ năng làm văn có liên quan đến bài làm

Tham khảo: Giáo án Vợ chồng A Phủ ngữ văn 12 chi tiết nhất

I. Kiến thức:Củng cố những kiến thức và kĩ năng làm văn có liên quan đến bài làm

II. Kĩ
năng
: Nhận ra được những ưu điểm và
thiếu sót trong bài làm của mình về các mặt kiến thức và kĩ năng viết bài văn
nói chung.

III.Thái độ: Có định hướng và quyết tâm phấn đấu để phát huy ưu điểm, khắc phục các thiếu sót trong bài văn sau.

IV. Định
hướng góp phần hình thành năng lực

– Phát huy năng lực tự học và tự chủ, năng lực
giao tiếp và hợp tác, năng lực giải quyết vấn đề và sáng tạo, năng lực ngôn
ngữ, năng lực tìm hiểu tự nhiên và xã hội, năng lực thưởng thức văn học và cảm
thụ thẩm mỹ…

I. GV: SGK, SGV, bài soạn,
bài viết của hs

II. HS: Vở soạn, sgk, bài
viết của bản thân và của bạn

I. MỤC TIÊU ĐỀ KIỂM TRA

  
– Thu thập thông tin để đánh giá mức độ đạt chuẩn kiến thức, kĩ năng
trong chương trình học kì 2, môn Ngữ văn lớp 12.

  
– Đề kiểm tra bao quát một số nội dung kiến thức, kĩ năng trọng tâm của
chương trình Ngữ văn 12 học kì 2 theo các nội dung Văn học, Làm văn, với mục
đích đánh giá năng lực đọc – hiểu và tạo lập văn bản của HS thông qua hình thức
kiểm tra tự luận.

    Cụ thể, đề kiểm
tra nhằm đánh giá trình độ học sinh  theo
các chuẩn sau:

   – Đọc văn:

    + Nhớ và hiểu được những kiến thức cơ bản
về tác phẩm.

   – Làm văn:

    + Nắm vững thao tác lập luận phân tích.

    + Nghị luận một tác phẩm, một đoạn trích
văn xuôi

II. HÌNH THỨC ĐỀ KIỂM TRA

      Hình thức : tự luận.

      Cách tổ chức kiểm tra: cho học sinh làm
bài ở nhà

III. THIẾT LẬP MA TRẬN

  
– Liệt kê tất cả các chuẩn kiến thức kĩ năng của chương trình môn Ngữ
văn lớp 12, học kì.

  
– Chọn các nội dung cần đánh giá và thực hiện các bước thiết lập ma trận
đề kiểm tra (theo các bước như minh họa ở trên).

 – Xác định khungma trận.

             MA TRẬN ĐỀ BÀI VIẾT SỐ 6- MÔN NGỮ
VĂN 12

IV. BIÊN
SOẠN ĐỀ BÀI VIẾT SỐ 6

Phần I. Đọc hiểu (3,0 điểm)

Đọc văn bản sau và thực
hiện các yêu cầu từ câu 1 đến câu 4 :

CÂU
CHUYỆN VỀ HAI CHIẾC BÌNH

Có một người nông dân thường xuyên phải gánh nước từ suối
về nhà. Suốt hai năm ông dùng hai chiếc bình gánh nước, trong đó có một chiếc
bị nứt. Từ vết nứt của nó, nước cứ bị rỉ ra. Vì thế, cuối đoạn đường dài, từ
con suối về nhà, một chiếc bình luôn đầy nước; chiếc kia thì chỉ mang về có một
nửa bình nước.

Dĩ nhiên, cái bình nguyên vẹn rất tự hào về thành tích
của nó và cũng không bỏ lỡ cơ hội nào để tỏ ỷ coi thường, chê trách chiếc bình
nứt. Còn chiếc bình nứt luôn buồn tủi, xấu hổ về khuyết điểm của mình. Nó khổ
sở vì chỉ hoàn tất được một nửa công việc phải làm. Trong hai năm, nó phải chịu
đựng sự giày vò, đau khổ với ỷ nghĩ mình là kẻ thất bại và vô tích sự.

Một ngày nọ, chiếc bình nứt bèn lên tiếng bày tỏ với
người gánh nước:

– Con rất xấu hổ về bản thân và muốn nói lời xin lỗi ông
về thời gian đã qua.

Người gánh nước hỏi lại cái bình:

-Sao con phải xin lỗi? Mà con xin lỗi về chuyện gì?

Cái bình nứt đáp lại:

-Suốt hai năm qua, do vết nứt của con mà nước đã bị rò rỉ
trên đường về nhà. Ông đã phải làm việc chăm chỉ nhưng kết quả mang lại không
hoàn toàn như ông mong đợi.

Người gánh nước mỉm cười:

-Không phải vậy đâu! Ngày mai, trên đường ra suối con hãy
quan sát kĩ hai bền đường rồi nói ta nghe xem có gì khác lạ nhé.

Hôm sau, chiếc bình nứt nhìn con đường từ nhà ra suối và
thấy hai bên đường quang cảnh khác hẳn nhau. Một bên, cỏ mọc xanh mát và có rất
nhiều bông hoa đồng nội đủ màu đang khoe sắc. Bên kia, chỉ toàn là đất cát và
vài khóm cỏ dại héo khô. Không đợi nó cất tiếng hỏi, người gánh nước đã nói:

– Con có thấy rằng những bông hoa kia chỉ nở một bên vệ
đường, chỉ ở phía bên con mang nước về nhà không? Nước từ vết nứt của con đã
tưới cho đất, nuôi dưỡng cỏ hoa. Vợ và con gái ta đã rất vui vẻ, hạnh phúc khi
hái những bông hoa kia mang về tô điểm cho căn bếp, cho ngôi nhà của chúng ta.
Ngắm những bình hoa ấy, ta quên nỗi mệt nhọc sau một ngày dài vất vả. Không có
vết nứt của con, gia đình ta sẽ không có được những niềm vui ấm áp đó.

Chiếc bình nứt bừng tỉnh. Nó biết rằng, từ hôm nay, mỗi
ngày mới trên con đường này sẽ luôn đến cùng niềm vui, hạnh phúc.

(Theo In-tơ-nét)

Câu 1. Xác định phương thức biểu
đạt chính của văn bản.

Câu
2. Văn bản trên viết về chiếc bình nứt nhưng mục đích là để nói chuyện gì?

Câu 3. Vết nứt trên chiếc bình ẩn
dụ cho điều gì?

Câu 4. Nỗi xấu hổ, day dứt của
chiếc bình nứt gợi liên tưởng đến tâm trạng của con người khi đối diện với điều
gì?

Phần II. Làm văn (7,0 điểm)

Có ý kiến cho rằng: Ở truyện ngắn Vợ nhặt, Kim Lân chú tâm miêu
tả kĩ lưỡng hiện thực tàn khốc trong nạn đói thê thảm năm 1945
. Ý kiến khác
thì nhấn mạnh: Ở tác phẩm này, nhà văn
chủ yếu hướng vào thể hiện vẻ đẹp tiềm ẩn của những người dân nghèo sau cái bề
ngoài đói khát, xác xơ của họ.

Từ cảm nhận của mình về đoạn
trích sau, anh/chị hãy bình luận những ý kiến trên.

(…)Bữa cơm ngày đói trông thật thảm hại. Giữa cái mẹt rách có độc một lùm
rau chuối thái rối, và một đĩa muối ăn với cháo, nhưng cả nhà đều ăn rất ngon
lành. Bà cụ vừa ăn vừa kể chuyện làm ăn, gia cảnh với con dâu. Bà lão nói toàn
chuyện vui, toàn chuyện sung sướng về sau này:

 -Tràng ạ. Khi nào có tiền ta mua lấy đôi gà. Tao tính rằng cái chỗ đầu
bếp kia làm cái chuồng gà thì tiện quá. Này ngoảnh đi ngoảnh lại chả mấy mà có
ngay đàn gà cho mà xem…

 Tràng chỉ vâng. Tràng vâng rất ngoan ngoãn. Chưa bao giờ trong nhà
này mẹ con lại đầm ấm, hòa hợp như thế. Câu chuyện trong bữa ăn đang đà vui bỗng
ngừng lại. Niêu cháo lõng bõng, mỗi người được có lưng lưng hai bát đã hết nhẵn.

 Bà lão đặt đũa bát xuống, nhìn hai con vui vẻ:

 -Chúng mày đợi u nhá. Tao có cái này hay lắm cơ.

 Bà lão lật đật chạy xuống bếp, lễ mễ bưng ra một cái nồi khói bốc lên
nghi ngút. Bà lão đặt cái nồi xuống bên cạnh mẹt cơm, cầm cái môi vừa khuấy khuấy
vừa cười:

 -Chè đây. – Bà lão múc ra một bát – Chè khoán đây, ngon đáo để cơ.

 Người con dâu đón lấy cái bát, đưa lên mắt nhìn, hai con mắt thị tối
lại. Thị điềm nhiên và vào miệng. Tràng cầm cái bát thứ hai mẹ đưa cho, người mẹ
vẫn tươi cười, đon đả:

 -Cám đấy mày ạ, hì. Ngon đáo để, cứ thử ăn mà xem. Xóm ta khối nhà
còn chả có cám mà ăn đấy.

 Tràng cầm đôi đũa, gợt một miếng bỏ vội vào miệng. Mặt hắn chun ngay
lại, miếng cám đắng chát và nghẹn bứ trong cổ. Bữa com từ đấy không ai nói câu
gì, họ cắm đầu ăn cho xong lần, họ tránh nhìn mặt nhau. Một nỗi tủi hờn len vào
tâm trí mọi người.

 Ngoài đình bỗng dội lên một hồi trống, dồn dập, vội vã. Đàn quạ trên
những cây gạo cao chót vót ngoài bãi chợ hốt hoảng bay vù lên, lượn thành từng
đám bay vần trên nền trời như những đám mây đen.

 (…)

Ngoài đình tiếng trống thúc thuế vẫn dồn dập. Mẹ và vợ Tràng đã buông đũa đứng
dậy.

 Trong óc Tràng vẫn thấy đám người đói và lá cờ đỏ bay phấp phới…

( Trích Vợ nhặt, Kim Lân)

Xem thêm: Giáo án Nhân vật giao tiếp ngữ văn lớp 12 hay nhất

 

0 0 votes
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Khoa Y Dược Hà Nội tuyển sinh chính quy & liên thông vb2 các ngành Y Dược

Du học & XKLD Hướng tới 1 tương lai phát triển hơn

Top 15 phim anime hay nhất mọi thời đại không đọc hơi phí

Bài viết mới nhất

0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x