Cổng Thông Tin Đại Học, Cao Đẳng Lớn Nhất Việt Nam

Giáo án Tiếng mẹ đẻ Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Giáo án Tiếng mẹ đẻ – Nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức giúp HS nhận biết, nhớ được tên tác giả và hoàn cảnh ra đời, nội dung của các tác phẩm.

Tham khảo: Luyện tập thao tác lập luận bác bỏ Giáo án hay nhất

 I. Tên bài học : Tiếng mẹ đẻ _ nguồn
giải phóng các dân tộc bị áp bức

II. Hình thức
dạy học
 : DH trên lớp.

III. Chuẩn bị của giáo viên và
học sinh

1. Giáo viên:

– Phương tiện, thiết bị:

+ SGK, SGV, Tư liệu Ngữ Văn 11, thiết kế bài học.

+ Máy tính, máy chiếu, loa…

– PPDH: 
Phát vấn, thuyết trình, nêu vấn đề, thảo luận nhóm, trò chơi

2. Học sinh: Sách giáo khoa, bài soạn.

Tiếng mẹ đẻ _ nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

1. Kiến thức

a/ Nhận biết: HS nhận biết, nhớ được tên tác
giả và hoàn cảnh ra đời của các tác phẩm.

b/ Thông hiểu: HS hiểu và lí giải được hoàn
cảnh sáng tác có tác động và chi phối như thế nào tới nội dung tư
tưởng của tác phẩm.

c/Vận dụng thấp: Viết đoạn văn ngắn ( khoảng 200
chữ) bàn về vấn đề xã hội rút ra từ văn bản.

d/Vận dụng cao:

– Vận dụng hiểu biết về tác giả, hoàn
cảnh ra đời của tác phẩm để phân tích giá trị nội dung, nghệ thuật
của bài văn nghị luận;

2. Kĩ năng

a/ Biết làm: bài nghị luận về một tư tưởng đạo lí;

b/ Thông thạo: các bước làm bài nghị luận xã hội;

3.Thái độ

a/ Hình thành thói quen: đọc hiểu văn bản nghị luận
hiện đại;

b/ Hình thành tính cách: tự tin , sáng tạo khi tìm
hiểu văn bản nghị luận hiện đại;

c/Hình thành nhân cách:

-Biết nhận thức được ý nghĩa thời sự của bài văn
nghị luận;

-Biết trân quý những giá trị văn hóa tinh thần mà
bài văn nghị luận đem lại

-Có ý thức tìm tòi về thể loại, từ ngữ, hình ảnh
trong văn nghị luận hiện đại Việt Nam .

4. Những năng lực cụ thể học sinh cần phát triển:

– Năng lực thu thập thông tin
liên quan đến văn nghị luận hiện đại Việt Nam.

– Năng lực đọc – hiểu  các văn nghị luận hiện đại Việt Nam.

 – Năng lực trình bày suy nghĩ, cảm nhận của cá nhân về văn nghị luận hiện đại Việt Nam.

  – Năng lực hợp tác khi trao đổi, thảo luận về thành tựu, hạn chế, những đặc điểm cơ bản, giá trị của văn nghị luận của Nguyễn An Ninh.

– Năng lực phân tích, so sánh
đặc điểm của văn nghị luận của Nguyễn An Ninh với các
tác tác giả khác;

– Năng lực tạo lập văn bản nghị luận.

Đọc đoạn trích sau đây và trả lời các câu hỏi :  

  (1)Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn. Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả. Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?

  (2)Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm của Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

   Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?

  Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này:

  “Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra”. […]

  (3)Chúng ta không thể tránh né châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ phải biết ít nhất là một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu. Nhưng những kiến thức thu thập được, họ không được giữ cho riêng mình. Đồng bào của họ cũng phải được thông phần nữa. Tuy nhiên, sự cần thiết phải biết một ngôn ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo chuyện từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài mà mình học được phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình. […]

(Nguyễn An Ninh, Tiếng mẹ đẻ – nguồn
giải phóng các dân tộc bị áp bức

Theo SGK Ngữ
văn 11
, Tập hai, NXB Giáo dục, 2014, tr. 90)

Câu 1. Hãy ghi lại câu văn nêu
khái quát chủ đề của đoạn (1).

Câu 2. Thao tác lập luận chính
nào được tác giả sử dụng trong đoạn Nhiều đồng bào chúng ta… những từ để nói ra”
[…]
ở đoạn trích trên?

Câu 3. Dựa vào đoạn trích, hãy
giải thích vì sao tác giả lại cho rằng:
“Chúng ta không thể tránh né châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng
ta buộc họ phải biết ít nhất là một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu”
?

Trả lời:

Câu 1. Câu văn nêu khái quát chủ đề của văn bản: Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than
phiền rằng tiếng nước mình nghèo nàn.

Câu 2. Thao tác lập luận bác bỏ/phản bác hoặc thao tác bác bỏ/phản bác

Câu 3. Tác giả cho rằng:“Chúng ta không thể tránh né châu Âu, vai
trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ phải biết ít nhất là một ngôn
ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu”
vì nếu như thế “chúng ta” sẽ “hiểu được
châu Âu”, “có khả năng phổ biến tại An
Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu
” để “giải phóng dân tộc An Nam”.

Xem thêm: Giáo án Chiều tối Hồ Chí Minh chi tiết nhất

 

0 0 votes
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Khoa Y Dược Hà Nội tuyển sinh chính quy & liên thông vb2 các ngành Y Dược

Du học & XKLD Hướng tới 1 tương lai phát triển hơn

Top 15 phim anime hay nhất mọi thời đại không đọc hơi phí

Bài viết mới nhất

0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x