Cổng Thông Tin Đại Học, Cao Đẳng Lớn Nhất Việt Nam

Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019

Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019:

Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019:
Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019:

Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019:

Kì thi THPT Quốc Gia đã đến gần hơn bao giờ hết. Trong giai đoạn nước rút này thì cách ôn tập tốt nhất đó chính là luyện đề. Tham khảo một số đề thi chuẩn với cấu trúc ra đề của bộ là một phương pháp vô cùng hữu hiệu. Vậy nên chúng mình muốn gửi đến cho các em Bộ đề thi thpt ngữ văn môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019.

Phần I: ĐỌC – HIỂU (3,0 điểm)

“Những
người dễ thoát khỏi những suy nghĩ tiêu cực cũng chính là những người biết chấp
nhận cuộc sống của bản thân. Mỗi người chúng ta đều có những điểm mạnh, điểm yếu
riêng, bởi vậy khi so sánh bản thân với người khác, chúng ta không chỉ thấy
“khoảng cách” giữa mọi người mà còn thấy được “sự khác biệt” trong mỗi người.

Tự bản thân nghĩ như thế nào về mình được gọi là “tự đánh giá bản thân”. Khi một người đánh giá thấp bản thân, anh ta sẽ tự giày vò bản thân bởi cảm giác tự ti, chán ghét chính mình và chỉ nhìn mọi chuyện theo hướng tiêu cực. Cũng có nhiều trường hợp so sánh điểm mạnh của người khác với điểm yếu của bản thân, sau đó tự giam mình trong cảm giác tự ti, mặc cảm.

Ngược lại, nếu một người biết đánh giá bản thân phù hợp, dù gặp thất bại thì người đó vẫn tiếp tục hi vọng vào lần sau, tiếp thu lần thất bại này và học hỏi kinh nghiệm trong đó.

Tôi
có một người quen. Anh là một người rất giỏi, học đại học Tokyo. Thời đại học,
anh đi làm người mẫu. Nhìn bề ngoài, anh hoàn hảo đến mức mọi người phải ghen tị,
nhưng thực ra anh ấy lại tự đánh giá thấp bản thân. Ngay từ nhỏ, anh ấy thường
bị bố mẹ so sánh với người khác: “Con vẫn đang thua bạn đấy, cố gắng lên”. Anh ấy
luôn nghĩ, dù ở đâu, lĩnh vực gì, bản thân cũng chỉ là kẻ nửa vời mà thôi: “Dù
vào được đại học Tokyo thì vẫn có nhiều người giỏi hơn, trong giới người mẫu vẫn
có rất nhiều người hơn mình”. […]

Trong
khi đó, anh Hirotada Ototake, tác giả của cuốn sách Không ai hoàn hảo,
dù sinh ra với cơ thể không lành lặn, khuyết thiếu cả hai chân hai tay, nhưng
anh vẫn hoạt động rất tích cực với vai trò nhà báo thể thao. Anh đã kết hôn và
sống rất hạnh phúc.[…]

Chính
vì vậy, việc tự đánh giá bản thân ở mức thích hợp là điều rất quan trọng”

(Trích “Mình là cá, việc của mình là bơi”, Takeshi Purukawa, NXB Thế giới)

Câu 1: Theo tác giả, việc tự đánh giá thấp bản thân sẽ gây ra hậu quả gì? (0,5 điểm)

Câu 2: Anh/chị hiểu thế nào về câu nói “khi so sánh bản thân với người khác, chúng ta không chỉ thấy “khoảng cách” giữa mọi người mà còn thấy được “sự khác biệt” trong mỗi người”? (1,0 điểm)

Câu 3: Theo anh/chị thế nào là “biết đánh giá bản thân phù hợp”? (0,5 điểm)

Câu 4: Anh/chị có cho rằng việc chấp nhận những khuyết điểm của bản thân, coi nó là đặc trưng cho con người mình sẽ khiến chúng trở nên tự mãn hay không? Vì sao? (1,0 điểm)

Xem thêm: Dàn ý so sánh hai chi tiết trong cùng 1 tác phẩm

Phần II: LÀM VĂN (7,0 điểm)

Câu
1 (2,0 điểm)

Từ nội dung đoạn trích ở phần đọc – hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn ngắn
(khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ của mình về ý kiến “việc tự
đánh giá bản thân ở mức thích hợp là điều rất quan trọng”.

Câu
2 (5,0 điểm)

Trong truyện ngắn “Vợ chồng A Phủ”, nhà văn Tô Hoài đã
2 lần miêu tả sự trỗi dậy của sức sống tiềm tàng trong nhân vật Mị. Trong đêm
tình mùa xuân: “Trong đầu Mị đang rập rờn tiếng sáo. Mị muốn
đi chơi, Mị cũng sắp đi chơi. Mi quấn lại tóc, Mị với tay lấy cái váy hoa vắt ở
phía trong vách.” và trong đêm đông: “Mị rút con dao nhỏ cắt lúa, cắt
nút dây mây cởi trói cho A Phủ…. Rồi Mị cũng vụt chạy ra. Trời tối lắm. Nhưng Mị
vẫn băng đi. Mị đuổi kịp A Phủ, đã lăn, chạy, chạy xuống tới lưng dốc”.

Anh/chị hãy phân tích diễn biến tâm lí và hành động của nhân vật Mị trong hai lần miêu tả trên, từ đó làm nổi bật sự khác biệt cơ bản trong hai lần sức sống tiềm tàng trỗi dậy ấy

Hướng Dẫn Làm Bài

Phần I: Đọc Hiểu

Câu 1: Theo tác giả, việc tự đánh giá thấp bản thân sẽ khiến cho con người luôn tự giày vò bản thân bởi mặc cảm tự ti, chán ghét chính mình và nhìn mọi chuyện một cách tiêu cực.

Câu 2: Giải thích ý nghĩa của câu nói: Khi so sánh bản thân với người khác, không phải chỉ tạo sự xa cách, phân biệt về giá trị, vị trí, gây nên sự khó hòa hợp giữa mọi người. Quan trọng hơn, so sánh bản thân với người khác còn giúp chúng ta nhìn nhận được những điểm riêng biệt, độc đáo, đặc trưng của bản thân mình mà không giống với bất kì ai.

Câu 3: Biết đánh giá bản thân một cách phù hợp nghĩa là nhìn nhận một cách thẳng thắn, trung thực những ưu điểm và hạn chế của bản thân. Không đánh giá quá cao bản thân mình nhưng cũng không tự hạ thấp bản thân.

Câu 4:

Các em thể hiện quan điểm và cách lí giải hợp lí. Có thể theo hướng sau:

– Các em đưa ra ý kiến của bản thân: có thể đồng tình, hoặc không.

– Nếu đồng tình cần lí giải: Việc chấp nhận những khuyết điểm của bản thân,
coi đó là đặc trưng của bản thân đôi khi khiến con người bằng lòng, tự thỏa hiệp
với những gì mình có, không có ý thức vươn lên, không có ý thức sửa đổi, hoàn
thiện mình.

– Nếu không đồng tình cần lí giải: vì việc chấp nhận những khuyết điểm của bản thân, coi nó là đặc trưng của con người mình khiến cho con người cảm thấy vui vẻ, thoải mái với chính mình, xóa đi mặc cảm tự ti và là động lực để con người có ý thức khẳng định mình ở những phương diện khác.

Phần II: Làm Văn

Câu 1:

Câu 2:

PHẦN I: ĐỌC HIỂU: 3.0 điểm: Đọc đoạn trích sau và thực hiện các yêu cầu:

“Bản lĩnh là khi bạn dám nghĩ, dám làm và có thái độ sống tốt. Muốn có bản lĩnh bạn cũng phải kiên trì luyện tập. Chúng ta thường yêu thích những người có bản lĩnh sống. Bản lĩnh đúng nghĩa chỉ có được khi bạn biết đặt ra mục tiêu và phương pháp để đạt được mục tiêu đó. Nếu không có phương pháp thì cũng giống như bạn đang nhắm mắt chạy trên con đường có nhiều ổ gà.

Cách thức ở đây cũng rất đơn giản. Đầu tiên, bạn phải xác định được hoàn cảnh và môi trường để bản lĩnh được thể hiện đúng lúc, đúng nơi, không tùy tiện. Thứ hai bạn phải chuẩn bị cho mình những tài sản bổ trợ như sự tự tin, ý chí, nghị lực, quyết tâm… Điều thứ ba vô cùng quan trọng chính là khả năng của bạn. Đó là những kỹ năng đã được trau dồi cùng với vốn tri thức, trải nghiệm. Một người mạnh hay yếu quan trọng là tùy thuộc vào yếu tố này.

Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh. Khi xây dựng được bản lĩnh, bạn không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn được nhiều người thừa nhận và yêu mến hơn.”

(Tuổi trẻ.vn – Xây dựng bản lĩnh cá nhân)

Câu 1( NB). Chỉ ra những biểu hiện của người bản lĩnh được nêu trong văn bản? (0,5 điểm)

Trả lời : biểu hiện của người bản lĩnh được nêu trong văn bản là người dám nghĩ, dám làm và có thái độ sống tốt.

Câu 2 (TH). Theo anh/chị, một người có bản lĩnh sống phải là người như thế nào?(1,0 điểm)

Trả lời : Để có bản lĩnh sống cần:

+ Trau dồi tri thức, kinh nghiệm, kĩ năng

+ Dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm

+ Phải có ý chí, quyết tâm, nghị lực

+ Dám đương đầu với mọi thử thách để đạt được điều mong muốn.

Câu 3. (TH)Tại sao tác giả cho rằng “Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh”.( 1,0 điểm)

Trả lời: Sở dĩ tác giả cho rằng bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh bởi vì khi một cá nhân có bản lĩnh, dám nghĩ, dám làm nhưng chỉ nhằm mục đích phục vụ cá nhân mình, không quan tâm đến những người xung quanh, thậm chí làm phương hại đến xã hội thì không ai thừa nhận anh ta là người có bản lĩnh tốt.

Câu 4 ( VD). Tác giả viết rằng:

Bản lĩnh tốt là vừa phục vụ được mục đích cá nhân vừa có được sự hài lòng từ những người xung quanh. Khi xây dựng được bản lĩnh, bạn không chỉ thể hiện được bản thân mình mà còn được nhiều người thừa nhận và yêu mến hơn.”

còn anh/chị thì sao? Anh, chị sẽ làm gì để rèn luyện cho mình có được bản lĩnh? Hãy viết đoạn văn (khoảng 7 đến 10 dòng) trình bày suy nghĩ của mình.

Trả lời: Thí sinh viết được đoạn văn trình bày được suy nghĩ và việc làm của cá nhân. (Khuyến khích những đoạn sáng tạo có suy nghĩ tích cực).

LÀM VĂN (7 điểm)

Câu 1. (2 điểm)

Từ nội dung đoạn trích phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) trình bày suy nghĩ về ý kiến: Tuổi trẻ cần sống có bản lĩnh để dám đương đầu với mọi khó khăn thử thách.

Hướng dẫn làm bài

Đảm bảo yêu cầu về hình thức đoạn văn:

Xác định đúng vấn đề cần nghị luận:

Bản lĩnh có vai trò quan trọng đối với mỗi con người, có thể quyết định tương lai của mỗi người.

Triển khai vấn đề nghị luận:

Thí sinh lựa chọn các thao tác lập luận phù hợp để triển khai vấn đề nghi luâṇ theo nhiều cách nhưng có thể theo hướng sau:

* Giải thích:

– Bản lĩnh là sự tự khẳng định mình, bày tỏ những quan điểm cá nhân và có chính kiến trong mọi vấn đề. Người bản lĩnh dám đương đầu với mọi thử thách để đạt điều mong muốn.

* Bàn luận:

– Ý kiến đúng, có ý nghĩa trong cuộc sống. Sống bản lĩnh giúp cho bản thân có được sự tự tin trong cuộc sống,từ đó đề ra những mục tiêu và dám thực hiện chúng.

– Trước những cám dỗ của cuộc sống, người bản lĩnh hoàn toàn có thể tự vệ và tự ý thức được những điều cần làm.

– Phê phán những người sống thiếu bản lĩnh, họ bị lệ thuộc vào suy nghĩ và chính kiến của người khác…

* Bài học:

– Ý thức được bản thân cần có bản lĩnh trong cuộc sống và rút ra bài học hành động phù hợp cho bản thân. Lỗi lầm là những sai lầm, tội lỗi con người mắc phải và để lại những hậu quả đáng tiếc cho mình và mọi người.

Chính tả, dùng từ, đặt câu: Đảm bảo chuẩn chính tả, ngữ nghĩa, ngữ pháp tiếng Việt.

Sáng tạo: Có cách diễn đạt mới mẻ, thể hiện suy nghĩ sâu sắc về vấn đề nghị luận.

Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019:
Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019:

Câu 2: (5.0 điểm)

 “Hỡi đồng bào cả nước,

“Tất cả mọi người đều sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hóa cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc”.

Lời bất hủ ấy ở trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của nước Mỹ. Suy rộng ra, câu ấy có ý nghĩa là: tất cả các dân tộc trên thế giới đều sinh ra bình đẳng; dân tộc nào cũng có quyền sống, quyền sung sướng và quyền tự do.

Bản tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của cách mạng Pháp năm 1791 cũng nói: “người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi, và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi”.

Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được.”

(Trích “Tuyên ngôn độc lập”, Hồ Chí Minh)

Anh/Chị hãy phân tích đoạn văn trên để làm rõ ý kiến: “Tuyên ngôn Độc lập” của Hồ Chí Minh là áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam”.

Xem thêm:

Hướng dẫn làm bài

Đảm bảo hình thức bài văn nghị luận văn học. (0.25 điểm).

Xác định đúng vấn đề nghị luận: (0.5 điểm).

Thí sinh vận dụng hợp lý các thao tác lập luận để triển khai vấn đề:

* Giới thiệu vài nét về tác giả, tác phẩm và nêu vấn đề nghị luận. (0.5 điểm).

–   Giải thích ý kiến:

“Tuyên ngôn Độc lập” xứng đáng là một áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam vì, tác phẩm này Người đã đưa ra những lý lẽ sắc sảo và đanh thép.

+ Tính chất mẫu mực của áng văn xuôi chính luận còn được biểu hiện ở hệ thống lập luận chặt chẽ và khoa học.

–   Phân tích trình tự lập luận:

+ Mở đầu bản tuyên ngôn, tác giả Hồ Chí Minh đã trích dẫn những lời bất hủ về quyền con người trong bản Tuyên ngôn độc lập năm 1776 của Mỹ để từ cơ sở đó tác giả đã “suy rộng ra” quyền dân tộc.

+ Tiếp theo là lời trích dẫn từ tuyên ngôn nhân quyền và dân quyền của Pháp năm 1791 để chốt lại bằng một khẳng định đanh thép: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được”.

–   Hiệu quả lập luận của những lời trích dẫn:

+ Khi mở đầu bản “Tuyên ngôn độc lập” của Việt Nam bằng việc trích dẫn 2 bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ, tác giả Hồ Chí Minh đã tạo ra một vị thế ngang hàng giữa cuộc cách mạng tháng 8-1945 của Việt Nam với những cuộc cách mạng vĩ đại khác của thế giới như cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc của Mỹ năm 1776, cuộc cách mạng tư sản của Pháp năm 1789.

+ Tác giả còn kín đáo thể hiện niềm tự hào dân tộc khi cách mạng Việt Nam đã cùng một lúc thực hiện nhiệm vụ của cả 2 cuộc cách mạng:

“Đánh đổ các xiềng xích thực dân hàng trăm năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập” (chiến tranh giải phóng dân tộc của Mỹ)

“Đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ dân chủ cộng hòa” (nhiệm vụ dân chủ của cách mạng tư sản Pháp).

→ Đây cũng là cách làm sáng tỏ tính chất hợp quy luật của cách mạng Việt Nam trong xu thế chung của cách mạng thế giới, cũng là cách để nâng cao vị thế, tầm vóc của đất nước Việt Nam trên trường quốc tế.

+ Lấy phần trích dẫn này làm tiền đề triển khai các lập luận, lý lẽ trong bản tuyên ngôn độc lập của Việt Nam, tác giả đã khiến cho những luận điểm đúng đắn trong hai bản tuyên ngôn của Pháp và Mỹ vốn được thế giới thừa nhận như những chân lý lớn của nhân loại đã trở thành cơ sở pháp lý vững vàng, mang tầm vóc quốc tế cho lời tuyên bố độc lập của dân tộc Việt Nam.

+ Việc trích dẫn cũng thể hiện một nghệ thuật lập luận vừa khéo léo, vừa sắc sảo, kiên quyết của người viết:

Khéo léo vì thái độ trân trọng với những cuộc cách mạng vĩ đại của 2 quốc gia Pháp và Mỹ khi đặt lời tuyên bố bất hủ của tổ tiên họ vào phần mở đầu bản Tuyên ngôn độc lập của Việt Nam. Khéo léo còn vì hàm ý khẳng định: Việt Nam sẵn sàng tiếp thu những tư tưởng tiến bộ và thành quả cách mạng vĩ đại của nhân loại, Cách mạng Việt Nam xứng đáng được nhận sự đống tình ủng hộ của nhân loại tiến bộ trên thế giới.

Việc trích dẫn cũng tỏ ra kiên quyết sắc sảo khi cảnh cáo thực dân Pháp và đế quốc Mỹ: họ không thể phản bội lý tưởng cao quý của chính tổ tiên mình, không thể chà đạp lên lá cờ Tự do – Bình đẳng – Bác ái mà tổ tiên họ từng giương cao.

Lời khẳng định sau khi trích dẫn: “Đó là những lẽ phải không ai chối cãi được” là cách lập luận “vừa khôn khéo, vừa kiên quyết” của Hồ Chí Minh, là thủ pháp “lấy gậy ông đập lưng ông” rất mạnh mẽ, đích đáng.

–   Hiệu quả của những lời luận bàn, mở rộng nâng cao:

+ Sự “suy rộng ra” từ quyền con người tới quyền sống, quyền tự do, quyền bình đẳng của các dân tộc trên thế giới đã thể hiện tư duy lý luận sáng tạo của Đảng, của Hồ Chí Minh. Nhờ đó, lời tuyên bố độc lập của Việt Nam trở thành chân lý của mọi thời đại.

+ Đó cũng là đóng góp lớn về tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với phong trào giải phóng dân tộc trên toàn thế giới – một dòng thác cách mạng sẽ phát triển mạnh mẽ vào nửa sau thế kỷ XX.

→ Khẳng định: “Tuyên ngôn Độc lập” của Người là áng văn mẫu mực của văn xuôi chính luận Việt Nam” là ý kiến hoàn toàn xác đáng.

* Đánh giá chung vấn đề nghị luận (0.25 điểm).

Sáng tạo: (0.25 điểm).

Chính tả, dùng từ, đặt câu (0.25 điểm)

Bộ đề thi thpt quốc gia
Bộ đề thi thpt quốc gia

ĐỌC HIỂU (3.0 điểm): Đọc đoạn trích dưới đây:

Stephen Hawking (1942 – 2018) là nhà vật lý thiên tài người Anh, người dành cả cuộc đời để giải mã các bí ẩn của vũ trụ. Tờ Guardian gọi Stephen Hawking là “Ngôi sao sáng nhất trong ngành vũ trụ học hiện đại”. Ông là tác giả của cuốn “A Brief History of Time” (Lược sử thời gian), một trong những cuốn sách phổ thông về khoa học nổi tiếng nhất mọi thời đại.

Đối lập với cơ thể tật nguyền là một sức mạnh trí tuệ tuyệt vời của Hawking, cơ thể ông là hệ quả của căn bệnh thoái hóa thần kinh vận động (ALS) đã đày đọa nhà vật lý học thiên tài từ lúc ông mới 21 tuổi. Và từ đó đến khi qua đời ở tuổi 76, gần như toàn bộ cuộc đời của Hawking gắn với chiếc xe lăn. Khi được hỏi về căn bệnh ALS có ảnh hưởng đến bản thân như thế nào, Hawking đã trả lời: “không nhiều lắm, tôi cố gắng sống một cuộc sống bình thường nhất có thể, không nghĩ về tình trạng của mình, không hối hận về những gì mình không thể làm, mà cũng không nhiều điều tệ lắm diễn ra”.

Hawking có niềm say mê với ngành khoa học vũ trụ, dù ông phải vật lộn với căn bệnh quái ác. Bên trong thân thể gần như bất động là một bộ não sắc bén và tò mò trước bản chất của vũ trụ, cách nó hình thành cũng như số phận mà nó đi đến. Hawking có lẽ không phải là nhà vật lý vĩ đại nhất trong thời đại của ông, nhưng trong vũ trụ học ông lại là một nhân vật khổng lồ của thế kỷ XX. Không có đại diện hoàn hảo cho giá trị khoa học, nhưng Hawking đã giành được giải thưởng Albert Einstein, giải Wolf, huy chương Copley, giải thưởng Vật lý…                                                        

(Theo Dân Trí)

Câu 1. Stephen Hawking đã nói như thế nào về bệnh tật của ông?

Câu 2. Qua câu trả lời về bệnh ALS, anh/chị nhận thấy được điều gì ở con người Stephen Hawking?

Câu 3. Anh/Chị suy nghĩ gì về những giải thưởng mà Stephen Hawking nhận được?

Câu 4. Hãy cho biết thông điệp ý nghĩa nhất mà anh/chị rút ra từ cuộc đời của Stephen Hawking.

LÀM VĂN (7.0 điểm)

Câu 1

Từ nội dung đoạn trích ở phần Đọc hiểu, anh/chị hãy viết một đoạn văn (khoảng 200 chữ) về ý nghĩa của nghị lực và niềm đam mê trong cuộc sống.

Câu 2

Trong tùy bút Người lái đò Sông Đà, Nguyễn Tuân luôn thay đổi góc nhìn khi tái hiện hình ảnh con sông Đà:

(1) Lại như quãng mặt ghềnh Hát Loóng, dài hàng cây số nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió, cuồn cuộn luồng gió gùn ghè suốt năm như lúc nào cũng đòi nợ xuýt bất cứ người lái đò Sông Đà nào tóm được qua đấy. Quãng này mà khinh suất tay lái thì cũng dễ lật ngửa bụng thuyền ra.

(…)

(2) Con Sông Đà tuôn dài tuôn dài như một áng tóc trữ tình, đầu tóc chân tóc ẩn hiện trong mây trời Tây Bắc bung nở hoa ban hoa gạo tháng hai và cuồn cuộn mù khói núi Mèo đốt nương xuân.

(Trích – Ngữ văn 12, Tập một, NXB Giáo dục Việt Nam, 2016, tr.186-191)

Từ hai góc nhìn trên, anh/chị liên tưởng đến vẻ đẹp nào của sông Đà qua phần trích tùy bút Người lái đò sông Đà? Phân tích những vẻ đẹp đó để thấy rõ phong cách nghệ thuật độc đáo của Nguyễn Tuân.

Hướng Dẫn Làm Bài

Phần I: Đọc Hiểu

Câu 1: Hawking nói:“không nhiều lắm, tôi cố gắng sống một cuộc sống bình thường nhất có thể, không nghĩ về tình trạng của mình…”.

Câu 2: Hawking là một người giàu ý chí, nghị lực và có ý thức nỗ lực vượt qua nghịch cảnh.

Câu 3:

– Những giải thưởng mà Stephen Hawking nhận được cho thấy ông là một người trí tuệ, tài năng và là một con người đam mê nghiên cứu khoa học.

– Những giải thưởng khoa học danh giá ấy là sự tôn vinh con người có những cống hiến lớn lao cho khoa học.

Câu 4:

Có thể rút ra một trong những thông điệp sau:

–  Nghị lực có thể giúp con người vượt qua những khó khăn, trở ngại.

– Niềm đam mê ở bất cứ một lĩnh vực nào cũng có thể đưa con người đến những thành công.

– Khát vọng cống hiến trí tuệ, tài năng cho nhân loại là những cống hiến vẻ vang và cao quý…

Phần II: Làm Văn

Câu 1:

Câu 2:

Trên đó là Bộ đề thi thpt quốc gia môn ngữ văn theo hướng mới năm 2019. Được ra với cấu trúc sát nhất với đề thi của năm nay mà bộ đưa ra vậy nên các em cứ yên tâm tham khảo và luyện tập.

0 0 vote
Article Rating
Theo dõi
Thông báo của
guest
0 Comments
Inline Feedbacks
View all comments

Khoa Y Dược Hà Nội tuyển sinh chính quy & liên thông vb2 các ngành Y Dược

Du học & XKLD Hướng tới 1 tương lai phát triển hơn

Top 15 phim anime hay nhất mọi thời đại không đọc hơi phí

Bài viết mới nhất

0
Would love your thoughts, please comment.x
()
x